Cách đây 60 năm, vào thời gian này, Bác Hồ kính yêu đã khởi công soạn thảo một tài liệu “tuyệt đối bí mật” – một tác phẩm đặc biệt – bản Di chúc thiêng liêng, vô cùng quý giá để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước khi Người về cõi vĩnh hằng, gặp “thế giới người hiền” là các cụ C.Mác và V.I.Lênin. Khác với việc biên soạn các tác phẩm khác, bản Di chúc được Bác viết trong khoảng thời gian khá dài gần 5 năm, từ năm 1965 đến năm 1969 với sự công phu, nghiêm túc và trách nhiệm cao nhất đối với Tổ quốc, đối với Đảng, nhân dân và bạn bè quốc tế.
Sau khi được Đảng ta công bố, bản Di chúc của Bác đã gây xúc động vô cùng sâu sắc đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cũng như đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Bản Di chúc của Bác đã phản ánh hồn cốt, khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, phản ánh tâm hồn, đạo đức và nhân cách cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ của một con người vĩ đại, trọn đời phấn đấu, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; bảo vệ lẽ phải, chân lý và lẽ sống làm con người chân chính. Trong bản Di chúc, mỗi câu, mỗi chữ Bác viết đều thấm đượm sâu sắc tình yêu thương con người, sắt son tấm lòng thủy chung với đồng bào, đồng chí, dân tộc và bạn bè quốc tế.
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác đã để lại “muôn vàn tình thân yêu” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cho các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và bầu bạn gần xa trên thế giới.
60 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác khởi thảo tác phẩm đặc biệt: bản Di chúc và 56 năm Bác từ biệt thế giới này, cũng là những năm tháng chúng ta kiên trì học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác; ra sức phấn đấu, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người. Chúng ta đã biến đau thương thành hành động cách mạng, luôn đồng tâm, hiệp lực vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, đưa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Hiên nay, trong nhân dân ta vẫn còn một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, đồng bào và kiều bào ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, thanh thiếu niên, nhi đồng chưa có điều kiện tìm hiểu và nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bối cảnh lịch sử Bác Hồ viết tác phẩm đặc biệt – bản Di chúc. Vì lẽ đó, nghiên cứu, làm rõ hơn bối cảnh lịch sử Bác Hồ viết Di chúc và một số nội dung có liên quan đến bản Di chúc thiêng liêng của Người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
2. Tháng 5-1965, Bác Hồ tròn 75 tuổi, bước vào lứa tuổi thuộc lớp người “xưa nay hiếm”, nhưng trí tuệ, tinh thần của Bác vẫn sáng suốt, thân thể khỏe mạnh, sức làm việc vẫn dồi dào. Tuy vậy, Bác đã “linh cảm” và nhìn thấy trước mọi điều có thể xảy ra, để “đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”, Bác đã viết bản Di chúc, trong đó, từ đáy lòng mình, Bác đã nói lời tri âm, gửi gắm những điều suy nghĩ sâu sắc, căn dặn toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đồng bào và chiến sĩ cả nước những việc nên làm sau khi Người ra đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin.
Bác đã khởi công viết bản Di chúc vào hồi 9 giờ sáng ngày 10-5-1965, giữa lúc đồng bào và chiến sĩ cả nước đang hăng hái thi đua lập thành tích cao nhất để chúc thọ Bác tròn 75 tuổi. Các ngày tiếp theo: 11, 12, 13, 14 tháng 5, mỗi ngày Bác đều dành từ một đến hai tiếng đồng hồ để viết bản thảo và đến ngày 15-5-1965, bản Di chúc đầu tiên đã hoàn thành, gồm 3 trang do chính tay Bác đánh máy, ở cuối đề ngày 19-5-1965; bên cạnh có chữ ký của đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh.
Theo đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác, trong các năm 1966, 1967, Bác không có những bản viết riêng. Song, vào dịp tháng 4, tháng 5, tức là vào những ngày trước sinh nhật của mình, Bác đều đem bản Di chúc đã viết từ năm 1965 đọc lại, suy ngẫm nhưng không viết gì thêm.
Năm 1968, Bác viết bổ sung thêm một số đoạn, bản Di chúc có tất cả 6 trang viết tay. Lần này, Bác viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói về việc riêng đã viết trong bản thảo Di chúc năm 1965. Đồng thời, Bác viết thêm một số đoạn mới, đề cập đến những công việc sau khi nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Bác tập trung vào công tác xây dựng, chỉnh đốn lại Đảng; thực hiện miễn thuế nông nghiệp cho nông dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; đặc biệt là giải quyết các chính sách cho các gia đình thương binh, liệt sĩ; xây dựng các thành phố, làng mạc; khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa; chăm lo củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước.
Trong lần viết này, Bác viết rồi lại gạch chéo đoạn nói về chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc thương binh. Ở một số đoạn khác, Bác gạch dọc ở bên trái, ngoài lề, đó là đoạn nói về xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế, thực hiện thống nhất đất nước, Nam Bắc một nhà sum họp.
Ngày 10-5-1969, Bác viết lại phần mở đầu bản Di chúc, khoảng một trang viết tay. Sau khi Bác mất, Hội nghị bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III họp chiều ngày 3-9-1969 đã giao cho Bộ Chính trị chịu trách nhiệm công bố bản Di chúc của Bác.
Bản Di chúc được Đảng ta công bố chính thức chủ yếu dựa theo bản Di chúc Bác viết năm 1965, trong đó có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Bác viết năm 1969. Kết cấu của tác phẩm đặc biệt – bản Di chúc đã công bố chính thức như sau: Đoạn mở đầu lấy nguyên văn toàn bộ đoạn mở đầu Bác viết năm 1969, thay cho đoạn mở đầu Bác viết năm 1965. Phần giữa, từ đoạn nói về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào cộng sản thế giới là nguyên văn bản gốc Bác viết năm 1965.
Trong bản Di chúc năm 1965, Bác có viết một đoạn “về việc riêng”, dặn dò về việc tang và hỏa táng với lời căn dặn: sau khi Bác mất thì nên hỏa táng và để lại một phần tro, xương cho miền Nam. Năm 1968, Bác viết lại đoạn này, căn dặn để tro vào ba sành cho ba miền Bắc, Trung, Nam, mỗi miền một hộp. Ngoài ra, Bác còn viết bổ sung thêm một đoạn nói về cuộc đời riêng; trong đó có những dòng xúc động: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa”. Bản Di chúc do Bộ Chính trị đã công bố lấy nguyên đoạn Bác viết về bản thân năm 1968, trừ đoạn nói về hỏa táng.
Đoạn cuối, từ dòng chữ “cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” cho đến hết là nguyên văn bản gốc Bác viết trong bản Di chúc năm 1965. Đoạn này, năm 1968 và 1969, Bác không sửa lại hoặc viết thêm. Như vậy, bản Di chúc của Bác đã được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam công bố năm 1969, sau ngày Bác qua đời, về cơ bản giữ lại và lấy nguyên văn bản gốc, chỉ có một câu Bác viết năm 1965: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa”; đã được Bộ Chính trị bàn bạc và thống nhất sửa lại là: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài”.
Việc Đảng ta chọn bản Di chúc Bác viết năm 1965 để công bố chính thức là hoàn toàn đúng đắn vì đây là bản duy nhất được viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và bên cạnh, có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn – Bí thứ thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Một số đoạn trong bản Di chúc đã công bố chính thức được Đảng ta chọn lựa, kết cấu lại cho hợp lôgic với các đoạn Bác viết trước đó hoặc chưa công bố một số đoạn Bác viết thêm là vì điều kiện, hoàn cảnh trước và sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta lúc đó chưa cho phép, chưa thích hợp. Mặt khác, một số câu Bác viết rồi lại xóa, hình như Bác còn băn khoăn, đang cân nhắc, chưa coi là đã xong hẳn, chưa thật rõ ý Bác là thế nào.
3. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác (1990), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI quyết định công bố toàn bộ các bản Di chúc của Bác. Đó là một quyết định hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tâm nguyện của hàng triệu người dân. Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ khởi thảo tác phẩm đặc biệt – bản Di chúc thiêng liêng của Bác và 56 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ. Đây là đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân ta kiểm tra lại những việc chúng ta đã và đang làm với tính cách là những lời hứa thiêng liêng với Bác. Đồng thời, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả cao hơn, quyết tâm làm tốt hơn nữa những điều Bác đã căn dặn, xứng đáng với Bác kính yêu.
Di chúc của Bác Hồ là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh những tinh hoa văn hóa, tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Bác và dân tộc. Học tập Bác, làm theo lời Bác dạy, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội ta cần ra sức trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, thực hiện cho tốt những điều Bác căn dặn: cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ khi tổ chức phân công; góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đó là việc làm tốt nhất để thể hiện lòng biết ơn và thực hiện lới hứa thiêng liêng với Bác kính yêu!./.


