Những chuyển động ngoạn mục dưới thời Tổng Bí Thư thứ 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự thay đổi rõ rệt trong tư duy, cách thức triển khai công việc cũng như khí thế hành động. Quyết liệt, dứt khoát, thực tế và bám sát đời sống thực tiễn.
Bắt đầu từ một tuyên bố táo bạo. Ngày 21/10/2024, đúng 80 ngày sau khi nhậm chức Tổng Bí thư, ông Tô Lâm người đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước Quốc hội và nói thẳng về căn bệnh trầm kha mà hệ thống vẫn đang tự hào bằng “mỹ từ ổn định” rằng: thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn.
Trong ba điểm nghẽn quen thuộc của phát triển là thể chế, hạ tầng, nhân lực, thể chế được đặt vào vị trí nghẽn nhất. Hình ảnh phù hợp nhất là chiếc phễu bị tắc ngay cổ chai: dù đổ bao nhiêu “nước” vào, gồm vốn, công nghệ và con người, dòng chảy vẫn không thể thông.
Câu nói ấy không nên nhìn ở nội dung mà nằm ở không gian phát biểu. Một “chẩn đoán” như vậy được nói công khai giữa hội trường Quốc hội. Điều đó đồng nghĩa với một việc: căn bệnh không còn được né tránh, không còn được mô tả bằng những cụm từ an toàn mỹ miều như “ổn định”.
Khi bệnh đã được gọi đúng tên thì đó cũng là lúc một cuộc cải cách trên quy mô chưa từng có bắt đầu. Không phải cải cách vụn vặt. Không phải chỉnh sửa từng mảng. Mà là tái cấu trúc toàn diện từ trung ương đến địa phương, từ cơ cấu quyền lực đến cách vận hành hành chính.
63 tỉnh thành còn 34. Giảm 29 tỉnh thành, tương đương 46%. Cấp huyện, tầng trung gian tồn tại suốt nhiều thập kỷ, bị xóa bỏ hoàn toàn. Việt Nam chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp: tỉnh và xã. Số đơn vị hành chính cấp xã giảm từ 10.035 xuống 3.321, giảm gần 67%. Số cơ quan chuyên môn cấp huyện giảm từ 8.289 xuống còn 0.
Ở đây thường xuất hiện một phản xạ quen thuộc: nhanh quá, mạnh quá, liệu có rối không. Nhưng chính lúc đó, câu nói của độc giả quốc tế quay trở lại: hỗn loạn hay độ chính xác phụ thuộc vào cách đọc. Nếu đây là cắt giảm bừa bãi, hệ thống sẽ vỡ. Nếu đây là phẫu thuật chiến lược, hệ thống sẽ đau, nhưng sẽ đổi nhịp.
Và phẫu thuật chiến lược luôn có logic của nó. Logic ấy là cắt tầng nấc để cắt ma sát. Mỗi tầng trung gian tồn tại lâu ngày đều hình thành một loại quyền lực: quyền lực trì hoãn, quyền lực diễn giải, quyền lực “giữ hồ sơ”. Khi tầng nấc bị cắt bỏ, đường đi của quyết định buộc phải thẳng hơn, trách nhiệm buộc phải rõ hơn, tốc độ buộc phải nhanh hơn.
Tinh gọn cũng không chỉ diễn ra ở địa phương. Chỉ riêng Bộ Công an đã xóa 6 tổng cục, sáp nhập hơn 60 đơn vị cấp cục, giải thể gần 300 đơn vị cấp phòng, tiết kiệm hơn 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Cơ quan trung ương, các bộ bạn ngành đều phải tự dọn dẹp. Nhờ vậy mà dư dôi ngân sách tiến đến quyết định chưa từng có trong lịch sử: miễn giảm học phí toàn quốc. Nhưng cái quan trọng không phải vì tiền mà là việc thay đổi không phải để phục vụ chính nó mà là phục vụ người dân.
Dù đã được nói rất nhiều lần nhưng phải đến cuộc “Đại phẫu năm 2025” thì chủ thể người dân mới được thực hiện triệt để nhất, rút ngắn khoảng cách nhất và được đo bằng hiệu quả thực tiễn nhất.
Một bộ máy gọn mà tư duy cũ vẫn vận hành thì chỉ gọn trên sơ đồ. Căn bệnh sâu hơn nằm ở thói quen vận hành: cơ chế xin cho. Chính vì thế nó cũng phải lên “bàn mổ”.
Để hiểu cơ chế ấy bám rễ thế nào, chỉ cần nhìn vào một câu chuyện rất đời. Một người mẹ sinh con. Để hoàn tất giấy tờ cho đứa trẻ, phải đến trạm y tế lấy giấy chứng sinh, mang sang công an lấy số định danh, mang sang tư pháp lấy giấy khai sinh, quay lại công an làm hộ khẩu, rồi sang y tế làm bảo hiểm. Năm chuyến đi. Năm cơ quan. Năm lần trình bày, photocopy, xin xác nhận. Mỗi chuyến đi có thể bắt đầu từ 5 giờ sáng. Mỗi chuyến đi có thể phát sinh yêu cầu mới.
Mỗi chuyến đi có thể mất cả ngày.
Câu hỏi được đặt ra lúc đó rất đơn giản: vì sao không thể làm tất cả ngay tại nơi sinh trong một đến hai ngày. Tại sao một dữ liệu mà nhà nước nắm được lại bắt dân tự mang đi chứng minh hết lần này đến lần khác.
Bản chất của xin cho nằm ở điểm ấy. Khi dữ liệu không chạy trong hệ thống, con người bị buộc phải chạy giữa các cơ quan. Khi dân phải chạy, quyền lực “cho phép” sinh ra. Khi quyền lực “cho phép” sinh ra, một việc đơn giản sẽ bị tách thành nhiều việc phức tạp, một thủ tục dễ sẽ bị bẻ thành nhiều thủ tục rối rắm.
“Đại phẫu tư duy” vì vậy không chỉ là lời kêu gọi đạo đức. Đại phẫu tư duy phải đi bằng cơ chế cụ thể: dữ liệu dùng lại, thủ tục liên thông, dịch vụ công toàn trình, định danh số, để dân không còn làm “người vận chuyển giấy tờ” cho nhà nước.
Và đây là chỗ các con số của “đại phẫu tư duy” bắt đầu xuất hiện. Đến cuối năm 2024, dịch vụ công trực tuyến sử dụng định danh điện tử VNeID làm phương thức đăng nhập phổ biến với hơn 93,7 triệu lượt truy cập. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt khoảng 45 %, riêng khối bộ đạt hơn 62%. Cổng Dịch vụ công quốc gia cung cấp 4.475 dịch vụ công trực tuyến, tương đương khoảng 70,8 % tổng thủ tục hành chính, đồng bộ hơn 382 triệu trạng thái xử lý hồ sơ. Hệ thống điều hành điện tử của Chính phủ đã thay thế khoảng 953.700 hồ sơ giấy.
Đây là thước đo của một chuyển dịch quyền lực rất cụ thể. Khi hồ sơ đi thẳng qua hệ thống, cơ chế xin cho mất dần đất sống. Khi dữ liệu được dùng lại giữa các cơ quan, dân không còn phải tự xác minh những điều nhà nước đã biết. Khi thủ tục được xử lý toàn trình, câu chuyện “chạy vạy” bắt đầu nhường chỗ cho câu chuyện “ngồi nhà làm giấy tờ”.
Tất nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm tiếp. Một cuộc đại phẫu không thể tự động tạo ra sức khỏe nếu thiếu hồi phục, thiếu kỷ luật thực thi, thiếu năng lực mới thay thế thói quen cũ. Nhưng có một điều đã xảy ra và khó đảo ngược: căn bệnh trầm kha đã được điểm mặt gọi tên, dao mổ đã đặt lên bàn, và những đường mổ đầu tiên đã cắt vào cấu trúc lẫn cách nghĩ.
Và trong một thế giới nơi chậm đồng nghĩa với bị định đoạt, chỉ riêng việc dám tự “mổ xẻ” chính mình đã là một tuyên bố về quyền tự quản. Và luôn cần phải nhắc lại rằng: Không có cuộc phẫu thuật nào mà không đau đớn./.


